Lập luận là một kết luận được đỡ bằng một hay nhiều lý lẽ mà người khác có thể kiểm tra. Nếu chỉ có kết luận mà không có lý lẽ thì đó là ý kiến, còn nếu chỉ có một tràng than phiền mà không dẫn tới điều gì thì đó chưa phải lập luận.
Chào bạn, đây là Nhà Lý Luận. Tập này là viên gạch đầu tiên của cả chương trình: nhìn một câu nói và tách được đâu là điều người ta muốn mình tin, đâu là lý do họ đưa ra. Nghe thì đơn giản, nhưng phần lớn những cuộc cãi nhau bế tắc đều bắt đầu từ chỗ không ai tách được hai thứ này.
Một bữa cơm tối và ba mảnh của một lập luận
Thử nghe một cuộc bàn bạc rất quen. Mẹ nói: cuối tuần này cả nhà đừng đi ăn nhà hàng nữa, tháng này tiền điện tăng, mà bà cũng đang kiêng đồ dầu mỡ. Câu đó gọn, nhưng bên trong có đủ ba mảnh mình cần học.
Mảnh thứ nhất là kết luận, tức điều mẹ muốn cả nhà chấp nhận: cuối tuần không đi ăn ngoài. Mảnh thứ hai và thứ ba là lý lẽ: tiền điện tháng này tăng, và bà đang kiêng dầu mỡ. Lý lẽ là thứ được đưa ra để đỡ cho kết luận đứng vững.
Còn luận điểm thì sao? Trong văn nghị luận ở trường, luận điểm thường là những ý lớn mà cả bài muốn chứng minh, còn luận cứ là lý lẽ cùng dẫn chứng đỡ cho từng ý. Ngoài đời mình không cần gọi tên chính xác như vậy. Chỉ cần hỏi hai câu: người này muốn mình tin điều gì, và vì sao.
Khi đã tách được, bạn sẽ thấy mình có nhiều lựa chọn hơn hẳn. Bạn có thể đồng ý với kết luận nhưng không đồng ý với một lý lẽ, hoặc đồng ý với cả hai lý lẽ mà vẫn thấy chúng chưa đủ để dẫn tới kết luận.
Làm sao nhận ra đâu là kết luận trong một câu nói?
Tiếng Việt có sẵn những chữ đánh dấu rất tiện. Đứng trước kết luận thường là: cho nên, vì vậy, thế thì, suy ra, rõ ràng là. Đứng trước lý lẽ thường là: vì, bởi, do, tại, xét thấy, huống hồ. Nghe thấy những chữ này, bạn biết ngay mảnh nào là mảnh nào.
Rắc rối là người ta hay đảo thứ tự. Có khi kết luận bị bỏ lửng cho bạn tự hiểu. Câu con nhà người ta học thêm ba lớp đấy, nói xong thì im, kết luận nằm trong im lặng: con cũng phải học thêm.
Một mẹo mình hay dùng là thử thêm chữ cho nên vào giữa hai vế. Nếu câu đọc lên xuôi tai, bạn đã tìm đúng chiều. Tiền điện tăng, cho nên không đi ăn ngoài, nghe xuôi. Không đi ăn ngoài, cho nên tiền điện tăng, nghe ngược ngay.
Khi không tìm ra kết luận nào cả, rất có thể người kia đang kể khổ hay đang trút giận, chưa phải đang lập luận. Lúc đó phản bác là lạc đề, người ta cần được nghe trước.
Ý kiến, lời khẳng định và lập luận khác nhau chỗ nào?
Câu phở Nam Định ngon hơn phở Hà Nội là một ý kiến. Nó có thể đúng với người nói, nhưng chưa đưa ra gì để người khác kiểm. Bạn có thể hỏi lại và nhận được câu trả lời: tại thích thế.
Câu quán này dùng nước dùng ninh xương, không dùng bột nêm, nên vị ngọt hậu và đỡ khát nước sau khi ăn là một lập luận. Nó có lý lẽ, mà lý lẽ đó kiểm được: bạn có thể hỏi chủ quán, có thể ăn rồi để ý xem mình có khát không.
Phân biệt hai thứ này giúp bạn khỏi phí sức. Cãi nhau về một ý kiến thuần sở thích thường không đi tới đâu. Còn khi người ta đưa ra lập luận, bạn có chỗ để bám vào: kiểm lý lẽ, kiểm cách nối lý lẽ với kết luận.
Cũng có những câu nghe như ý kiến nhưng thực ra là lời khẳng định về sự thật, kiểu đi bộ sau bữa ăn làm hại dạ dày. Câu đó đúng hoặc sai, chứ không phải chuyện khẩu vị. Gặp loại câu này, lịch sự nhất là hỏi người ta dựa vào đâu mà nói vậy.
Một kết luận, nhiều lý lẽ: đỡ song song hay đỡ nối tiếp?
Quay lại bữa cơm. Hai lý lẽ của mẹ là tiền điện tăng và bà kiêng dầu mỡ. Chúng đỡ kết luận theo kiểu song song: mỗi cái tự đứng được một mình. Nếu tháng này tiền điện không tăng, lý do của bà vẫn còn nguyên.
Có những lập luận khác, lý lẽ phải đi cùng nhau mới đỡ nổi. Chẳng hạn: xe nhà mình chỉ chở được bốn người, cả nhà có sáu người, cho nên phải đi hai chuyến. Bỏ một trong hai lý lẽ là kết luận sụp ngay. Đó là đỡ nối tiếp, như hai chân của một cái thang.
Biết kiểu đỡ nào giúp bạn phản biện đúng chỗ. Với lập luận song song, bác bỏ một lý lẽ chưa làm kết luận đổ, nên người kia không cần nhượng bộ. Với lập luận nối tiếp, chỉ cần một mắt xích gãy là cả chuỗi phải xem lại.
Người hay cãi giỏi thường lẳng lặng tấn công vào lý lẽ yếu nhất trong một chuỗi song song, rồi tuyên bố đã thắng. Bạn đừng mắc bẫy đó. Hãy nói thẳng: được, giả sử lý do đó không đúng, thì lý do còn lại vẫn đứng, và mình vẫn nghĩ như cũ.
Tập tách lập luận mỗi ngày mà không thành người khó chịu
Bài tập đơn giản nhất là đọc một mẩu quảng cáo hay một bài đăng dài trên mạng, rồi tự viết lại thành đúng một câu theo khuôn: vì thế này và thế kia, cho nên thế nọ. Nhiều bài rất dài rút lại chỉ còn một lý do mỏng.
Bài tập thứ hai là làm với chính mình. Trước khi gửi một tin nhắn thuyết phục ai đó, hãy tự tách ra xem kết luận của mình là gì và mình đang đưa mấy lý lẽ. Thường thì mình sẽ phát hiện lý do thật sự chưa được nói ra, còn lý do được nói ra chỉ là lý do dễ nói.
Điều cần tránh là biến bữa cơm thành phiên toà. Không ai muốn nghe câu: lập luận của mẹ có hai luận cứ song song. Công cụ này để bạn dùng trong đầu, giúp bạn hỏi đúng câu, chứ không phải để gắn nhãn lên người thân.
Câu hỏi để bạn mang theo: lần gần nhất bạn đổi ý về một chuyện gì đó, bạn bị thuyết phục bởi kết luận nghe hay, hay bởi một lý lẽ cụ thể mà bạn không cãi được?
Câu hỏi thường gặp
Luận điểm và luận cứ khác nhau thế nào trong bài văn?
Luận điểm là ý chính mà bài văn hay một đoạn văn muốn chứng minh. Luận cứ là lý lẽ và dẫn chứng được đưa ra để đỡ cho luận điểm đó. Một luận điểm thường cần vài luận cứ mới đứng vững.
Một câu hỏi có thể là lập luận không?
Có, khi câu hỏi được dùng như một lời khẳng định ngầm. Câu chẳng lẽ con muốn thi trượt à chứa kết luận rằng con nên học thêm. Nhận ra điều đó thì bạn trả lời vào kết luận ngầm thay vì trả lời câu hỏi bề mặt.
Lập luận có lý lẽ sai thì kết luận có chắc sai không?
Không chắc. Một kết luận đúng vẫn có thể được đỡ bằng lý lẽ tồi. Bác bỏ được lý lẽ chỉ cho thấy lập luận đó chưa chứng minh được kết luận, chứ chưa chứng minh kết luận sai.
Vì sao nên tách kết luận ra trước khi phản bác?
Vì nếu không biết người kia muốn mình tin điều gì, bạn rất dễ phản bác một thứ họ không hề nói. Tách kết luận ra trước giúp cả hai bên đang nói về cùng một chuyện.
Trẻ em bắt đầu hiểu lập luận từ lúc nào?
Rất sớm, trẻ đã dùng chữ vì để xin thứ mình muốn. Cha mẹ có thể tập cho con bằng cách hỏi lại: con muốn điều gì, và vì sao con nghĩ vậy, mà không chấm đúng sai lý do của con.